Những câu chuyện tâm linh về Côn Đảo

Đăng ngày 2017-06-19 , lúc: 15:10:46

Tour Côn Đảo

NHỮNG CÂU CHUYỆN LINH THIÊNG VỀ CÔN ĐẢO

⚑ ĐĂNG KÝ KHÁM PHÁ TOUR CÔN ĐẢO

⚑ CÁC CÂU CHUYỆN LINH THIÊNG TẠI CÔN ĐẢO

1. CHUYỆN HỒN THIÊNG CHỊ SÁU (Nhấn vào xem chi tiết )

Hình ảnh người con gái anh hùng Đất Đỏ Võ Thị Sáu ai ai cũng biết. Chị Sáu sinh năm 1933 tại thị trấn Đất Đỏ, huyện Long Đất. Năm 1947, khi mới 14 tuổi, Võ Thị Sáu trở thành chiến sĩ trinh sát của Đội Công an xung phong Đất Đỏ. Tết Canh Dần (1950), Võ Thị Sáu tình nguyện tìm diệt bọn ác ôn chuyên vào chợ Đất Đỏ quê chị để cướp bóc. Diệt được bọn ác ôn này, nhưng Sáu lại bị bọn ác ôn khác đuổi theo, bắt được. Tháng 4- 1950, Võ thị Sáu bị giam ở khám Chí Hòa. Bọn Pháp mở phiên tòa xử chị “án tử hình” khi chưa đủ tuổi thành niên. Pháp sợ dư luận phản đối, nên chúng đưa Võ Thị Sáu ra Côn Đảo để hành quyết. Bốn giờ sáng ngày 21-1-1952, tàu chở Võ Thị Sáu cùng với 40 tù chính trị và 3 tử tù nữa vượt biển ra Côn Đảo. Ngày 23-1-1952, người tử tù nhỏ tuổi nhất ở Côn Đảo không cho kẻ thù bịt mắt, cất cao tiếng hát “Tiến quân ca”: Đoàn quân Việt nam đi. Sao vàng phất phới... Khi giặc nổ súng, Võ Thị Sáu thét lên: Đả đảo thực dân Pháp! Việt Nam độc lập muôn năm! Hồ Chủ Tịch muôn năm!

Bảy tên đao phủ đứng cách chị vài mét, đồng loạt nổ súng, nhưng chị không chết. Vì bọn đao phủ bị hoảng loạn, run rẩy trước ánh mắt nhìn của chị Sáu.Tên đội lê dương tức giận rút súng ngắn tiến lại, dí tận mang tai chị bóp cò. Đó là 7 giờ sáng ngày 23-1-1952, Võ Thị Sáu tròn mười bảy tuổi!


Chuyện hồn thiêng chị Sáu

Chuyện hồn thiêng chị Sáu


Đã 52 năm kể từ ngày Võ Thị Sáu hy sinh, tên chị đã thành tên nhiều đường phố, trường học ở rất nhiều thành phố, thị xã trong cả nước. Chị đã bất tử đi vào thơ ca, âm nhạc, điêu khắc. Nghiêng mình Sáu hái bông hoa ven đường / Cài lên mái tóc rối tung / Cất cao tiếng hát giữa vòng lưỡi lê... (PQ). Năm 1993, Võ Thị Sáu được Nhà nước truy tặng Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Tại thị trấn Đất Đỏ, đã dựng tượng Võ Thị Sáu cao 6 mét. Ở Côn Đảo, mộ chị SÁu ở Khu B được xây lại đàng hoàng hơn. Huyện Côn Đảo cũng đã xây dựng Nhà tưởng niệm anh hùng liệt sĩ Võ Thị Sáu trong một khuôn viên rộng, kề bên núi và biển.

Tôi đã về Đất Đỏ, ra Côn Đảo, đến nghĩa trang Hàng Dương, Nhà tưởng niệm thắp hương vái chị Sáu. Ở những nơi này, tôi nghe được nhiều câu chuyện huyền thoại về chị Sáu mà trước đây chưa từng được nghe. Những câu chuyện linh thiêng, bí ẩn, nhưng ẩn chứa một sự ngưỡng mộ, tôn thờ theo truyền thống Á Đông đối với những người anh hùng vì dân vì nước!

Ở tượng đài Võ Thị Sáu ở Đất Đỏ, lư hương khi nào cũng có những nén hương mới thắp, khói nghi ngút suốt ngày. Ở Côn Đảo, mộ chị Sáu ngày nào cũng có người đến thắp nhang. Bà con ở chợ Côn Đảo kể rằng, trước khi đi “ăn hàng” ở đất liền phải ra vái xin chị Sáu phù hộ. Anh Bảy Oanh, một cựu tù Côn Đảo hiện là Trưởng Ban quản lý Di tích Côn Đảo kể, ở Đảo bây giờ, nam nữ thanh niên trước khi làm đám cưới thường ra Hàng Dương viếng mộ chị Sáu. Họ thắp hương, cúng gương lược, rồi lầm rầm khấn vái mong chị phù hộ cho. Hiện vẫn con vài chục gia đình công chức, gác ngục thời ấy ở lại Côn Đảo, trong nhà họ đều có bàn thờ Chị Sáu. Chị Sáu đối với họ như thần hộ mệnh! Bà con gọi chị Sáu là Cô Sáu hoặc Bà Sáu. Khi thề bồi thì người ta nói: “Thề có Cô Sáu chứng giám”. Khi mắng nhau, thì bảo: “Cô Sáu vặn cổ mày đi”! Ngày 23-1 hàng năm là ngày giỗ chị Sáu. Đây là ngày giỗ rất lớn ở Côn Đảo mà Nhà nước và nhân dân đều cùng tổ chức. Ngày giỗ, nhiều người nấu cúng ở nhà. Nhiều người mang lễ vật, hoa quả, hương đèn ra Nhà tưởng niệm. Nhiều người ở Thành phố Hồ Chí Minh, Vũng Tàu, Cần Thơ, Đồng Tháp..., dù phải vượt biển, vẫn ra Côn Đảo giỗ chị Sáu.

Trong nhà tưởng niệm, bàn thờ chị Sáu nghi ngút khói hương. Tôi thấy, ấn tượng nhất là tủ lễ vật bà con cúng giỗ chị từ nhiều năm qua. Cái tủ kính cao to treo hàng mấy chục bộ quần áo dài thiếu nữ. Áo quần đủ màu trắng, xanh, tím hoa cà. Những bộ quần áo thiếu nữ ấy để Cô Sáu mặc nơi chín suối. Một người dân bảo với tôi “Vì bà Sáu mất khi còn trinh nữ, lại bị kẻ ác giết oan, nên rất linh thiêng, ai ăn ở hiền lành thì chị phù hộ, ai ác độc thì chị vặn cổ!”. Trong tủ còn có cái hộp đựng đồ trang sức đầy ắp, nào dây chuyền, bông tai, nhẫn vàng... Người ta cúng để Cô Sáu làm trang sức. Tôi hỏi cô hướng dẫn di tích Thanh Vân: “Dây chuyền, hoa tai này là vàng thật hay giả?”. Thanh Vân trừng mắt: “Thật chứ làm sao giả được. Giả là Cô Sáu vật chết ngay à!”.

Những huyền thoại Võ Thị Sáu linh thiêng không phải bây giờ mới có, mà đã có ngay từ khi cô nằm xuống trên đất Hàng Dương 52 năm trước. Thanh Vân kể, ngày trước, trước mộ chị Sáu có một cây dương già bị khô phần ngọn. Chỉ còn gốc cây và một nhánh dương tươi tốt vươn thẳng về phía Bắc. Người ta bảo đó là Hồn chị Sáu hướng về miền Bắc, về Bác Hồ. Người dân Côn Đảo đã từng nhìn thấy chị Sáu bước ra từ cây Dương mỗi tối. Chị mặc áo dài trắng, lướt qua từng đường phố, hiện lên trước cửa từng nhà. Sau khi giám sát mọi việc thiện ác trên đảo, Cô Sáu lại trở về biến hình vào cây Dương khi trời chưa sáng. Đó cũng là mọi người thức dậy, đến nghĩa trang Hàng Dương, thắp hương, cắm hoa trước mộ chị trước khi đi làm việc.

Ngay tấm bia mộ chị Sáu cũng có nhiều huyền thoại. Sau hôm chị Sáu bị giặc Pháp giết, kíp tù làm thợ hồ ở Khám 2, Banh I đã đúc bia bằng xi măng, dựng trước mộ. Chúa Đảo Jarty tức tối dẫn lính lên nghĩa trang đập vỡ tấm bia, cào bằng mộ. Nhưng sau một đêm, ngôi mộ lại được đắp cao hơn trước. Và một tấm bia mộ y chang lại được dựng lên. Chúa Đảo sùi bọt mép, lại sai lính lên đập bia, phá mộ. Nhưng bọn Cai tù không sao hiểu nổi, mỗi lần chúng đập phá bia mộ, ngay hôm sau ngôi mộ và tấm bia lại hiện lên như trước. Dân Đảo đồn rằng cô Sáu linh thiêng, không ai có thể phá được mộ cô. Câu chuyện làm cho bọn gác ngục, bọn tù gian sợ sệt, chùn tay. Thực ra mộ và bia mộ đó đều do anh em tù thợ hồ làm trong đêm. Vào dịp Tết Nhâm Thân năm 1952 họ còn khắc một tấm bia bằng đá hoa cương đặt lên mộ chị Sáu. Bọn Chúa Đảo đập bia không bể, phải ra lệnh cho lính khiêng quẳng xuống biển. Thời Mỹ -Ngụy, bọn cai tù cũng nhiều lần đập bia, phá mộ chị Sáu, nhưng hôm sau mộ bia lại hiện lên. Có lần trên mộ chị Sáu có một tấm bia mộ làm bằng đá cẩm thạch đặt làm từ chợ Lớn chở ra Đảo! Mới hay, không có sự tàn ác nào có thể xóa được hình ảnh Võ Thị Sáu trong lòng tù nhân và người dân đảo!

Người tù Côn Đảo kể rằng, sau khi hành quyết Võ Thị Sáu, người lính lê dương già bỏ ăn suốt hai ngày. Ông ngồi suốt đêm ở gốc bàng đầu Cầu Tàu. Thẫn thờ, hốc hác. Ông tâm sự với người tù làm bồi: “Đôi mắt cô gái đã ám ảnh tôi, và có thể sẽ ám ảnh tôi suốt đời. Tôi phải bỏ nghề, tôi không thể bắn được nữa!” Cô Liễu, vợ tên giám thị Ruby, người đã ngất xỉu khi chứng kiến cuộc hành hình Chị Sáu, kể xẩm tối hôm 30 Tết, cô lén chồng đem hương hoa lên viếng mộ Cô Sáu, bỗng thấy một người con gái mặc áo dài trắng từ ngôi mộ đi ra. Liễu sụp lạy rối rít. Trên đường về nhà, đi tới đâu Liễu cũng thấy bóng cô gái trước mặt. Thế là Tết ấy, vợ chồng Ruby, Liễu lập bàn thờ Cô Sáu ở nơi trang trọng nhất, sớm tối hương khói, hoa quả. Từ đó nhiều gia đình gác ngục người Việt lập bàn thờ Cô Sáu. Họ tin rằng, một nguời con gái chết trẻ và chết thiêng như thế sẽ hóa Thần.

Vợ chồng viên cò Vol Peter ngày Tết ấy cũng dắt nhau lên mộ chị Sáu trồng khóm hoa Dừa, là loại hoa mà chị đã ve vuốt ở sân Sở Cò trước khi ra pháp trường. Đến hôm nay những khóm hoa Dừa đó vẫn nở bên mộ chị Sáu. Có lần người dân đảo xôn xao về cái chết của tên tù gian Nguyễn Văn Tân. Xác hắn bị treo trên cây bằng băng trong vườn nhà Giám thị trưởng Passi. Người ta cho rằng, hắn bị giết chết vì vụ thất thoát 200 ngàn đồng (tiền Đông Dương) của Hợp tác xã Tiêu thụ mà hắn làm kế toán. Nhưng dân đảo thì khẳng định rằng, tên Tân chết là do Cô Sáu “bắt” vì hắn là tên hung hăng nhất trong đám đập bia phá mộ Cô Sáu! Cũng thời gian ấy Chúa đảo Jarty bị rơi sao, mất chức vì vụ 200 tù nhân đóng thuyền vượt ngục ở Bến Đầm. Người ta bảo chị Sáu đã “bắt” tên Chúa đảo phải mất sao, mất chức vì hắn quá tàn ác. Bạch Văn Bốn, tên chúa Đảo đầu tiên thời Mỹ- Ngụy khét tiếng chống cộng, cưỡng ép tù nhân ly khai cộng sản, cấm viếng mộ Võ Thị Sáu. 4 năm Bốn làm tỉnh trưởng Côn Đảo đã có 500 tù nhân bị giết. Hắn biết chuyện Cô Sáu linh thiêng, nhưng hắn cho là luận điệu tuyên truyền của Việt Cộng. Một khuya, Bốn mở cửa Dinh ra sân, hắn thấy một người con gái bước ra Cầu Tàu. Hắn rút súng cầm tay. Chợt cô gái quay phắt lại, bước tới và nhìn thẳng vào mắt hắn. Sợ qúa, Bốn bủn rủn chân tay, để rơi khẩu súng, hớt hải chạy vào nhà, đóng của lại, lầm rầm cầu nguyện. Từ đó Bốn rất sợ cô Sáu. Chuyện giám thị Đỗ Văn Phục tàn ác, vợ hắn đang có thai, tự dưng sốt rất cao, vật vả, mắt trợn ngược, miệng sùi bọt mép. Phục về nhà hoảng quá, chạy lên nhà thương gọi thầy thuốc. Khi về tới nhà thì vợ biến đi đâu mất. Như có linh cảm, Phục chạy lên Hàng Dương thì thấy vợ nằm bất tỉnh bên mộ Chị Sáu. Hắn bỗng nhớ tời lời môt người tù mà hắn tra tấn hành hạ: “Lẽ đời có nhân quả. Ông gieo gì rồi sẽ gặt nấy. Tôi nói có cô Sáu chứng giám”. Phục sụp lạy trước mộ Chị Sáu, hứa ăn năn hối cải. Hồi lâu vợ Phục tỉnh lại. Hôm sau vợ chồng Phục mang lễ vật lên cúng mộ!

Có thằng tên là Nghị mới bị đày ra Đảo làm trật tự an ninh, chưa biết oai linh Cô Sáu lại đập phá bia mộ chị Sáu. Hắn đập nát bia, đập luôn lư hương và hai bình cắm hoa. Tất nhiên hôm sau tấm bia mộ mới lại được dựng lên. Còn tên Nghị thì ít hôm sau người ta thấy hắn gầy tóp lại, vật vờ dọc đường phố gần nhà thương. Hắn sốt li bì, không ăn uống gì được. Nhà thương Côn Đảo không chữa được, làm giấy chuyển hắn vào Chợ Quán. Ba ngày sau hắn chết. Tỉnh trưởng mới Côn Đảo Tăng Tư lập bàn thờ Cô Sáu tại tư dinh, và không dám tàn nhẫn với tù nhân. Tăng Tư đã một lần dùng oai linh Cô Sáu để xử kiện. Hai tên giám thị nghi ngờ nhau ăn trộm, làm đơn kêu kiện. Tăng Tư ra lệnh, hai đứa nhảy lên xe lên mộ Cô Sáu mà thề. Đứa nào gian cô Sáu biết ngay. Thế là có đứa sụp xuống nhận tội! Chính tên Tăng Tư này đã về Chợ Lớn đặt một tấm bia mộ Võ Thị Sáu bằng cẩm thạch chở ra Đảo, làm lễ đặt bia rất long trọng. Tấm bia mộ bằng đá cẩm thạch đó tồn tại được 9 năm, lại bị thằng tù quân phạm tên là Sước nghênh ngang vác búa đập phá. Sáng hôm sau, thấy vắng Sước, người ta đi tìm thì thấy hắn đã nằm chết trên một tảng đá to phía bờ biển!

Chuyện Cô Sáu linh thiêng bà con Côn Đảo kể cả ngày không hết. Nghe chuyện tôi cứ miên man nghĩ về sự tồn tại vĩnh cửu của con người. Người như Võ Thị Sáu, dù chết khi 17 tuổi, nhưng là người sống mãi trong lòng người dân. Đó là một CON NGƯỜI VĨNH CỬU!

Vâng, tôi tin trong tương lai gần thôi, Côn Đảo sẽ trở thành Đảo Ngoc, du lịch nổi tiếng của Việt Nam.



2. LINH THIÊNG CÔN ĐẢO (Nhấn vào xem chi tiết )

Đêm Côn Đảo đã vào thật sâu. Tiếng sóng ầm ào cứ nối đuôi nhau chạy mãi vào bờ tạo nên những tiếng kêu thình thịch kèm theo những cột nước trắng xóa nhô lên khỏi mặt biển rồi chìm ngấm dưới cầu tàu 914. Xa xa, nghĩa trang Hàng Dương vẫn thâm u, tĩnh lặng. Những hàng mộ trắng thẳng tắp lặng im dưới những hàng cây cao to sừng sững như những nhân chứng lịch sử trên hòn đảo đầy oan nghiệt và lắm chuyện liêu trai, huyền thoại này. Những bó nhang leo lét bỗng cháy bùng lên trong đêm lạnh như xua tan cái không khí nặng nề, trầm uất. Gió nổi lên. Lá rơi xào xạc. Ánh trăng rằm lúc tỏ, lúc mờ càng làm khoảng không thăm thẳm sâu vời vợi kia trở nên huyền bí lạ lùng.


Chuyện hồn thiêng chị Sáu

Linh thiêng Côn Đảo


- Sao con thấy rợn người quá nội ơi! Ở đây chắc có ma nhiều lắm. Tiếng Liên nói đứt quãng tiếng nghe được, tiếng không.

- Làm gì có ma. Nếu có chắc là vong linh của cô Sáu và mấy người Cách mạng bị giết chết trên cái đảo địa ngục trần gian này. Tiếng ông Ba Hà trả lời gọn lỏn pha lẫn chút trầm buồn.

- Cô Sáu nào? Mà sao lại chết ở đây?

- Bây còn nhỏ nên chưa biết đó thôi. Cô Sáu là cô Võ Thị Sáu, quê miệt Đất Đỏ, Bà Rịa, nếu còn sống tới giờ bây phải kêu tới bằng bà lận. Thôi kêu bằng cô cho “cổ” trẻ hoài.

- Ạ. Con có nghe nói về cô Sáu rồi. Cổ còn nhỏ nhưng gan dạ lắm, đánh giặc thì ngon lành, nghe đâu cổ chết lúc còn rất trẻ.

- Chuyện cổ hy sinh cho cách mạng thì ai cũng biết, báo chí la rần rần, người ta viết truyện, dựng phim, viết vọng cổ, cải lương, bài hát về cổ rất nhiều, rồi đặt tên trường, tên đường từ Bắc chí Nam, nhưng có nhiều chuyện mà hổng phải ai cũng biết đâu nghe.

- Chuyện gì bí mật quá vậy nội? Liên thúc giục.

- Từ từ nội kể. Câu chuyện này đã theo nội trên năm mươi năm qua, lúc nội còn làm tỉnh trưởng cho chế độ Sài Gòn. Chuyện lén làm bia mộ cho cô Sáu, may mà trót lọt nếu đổ bể, tao và bà nội bây chắc cũng nằm đây cạnh cô Sáu rồi.

Ký ức mấy mươi năm trước kéo về trong đôi mắt già nua của người sỹ quan chế độ cũ. Ông đăm đăm nhìn ra phía biển, nhìn thật sâu vào khoảng không gian to rộng đang bao trùm lên nghĩa trang Hàng Dương, cầu tàu 914, nơi đã vùi chôn biết bao sinh mạng người Cộng sản, sống vì Đảng, chết vì dân. Lắm lúc ông không tự lý giải được, sức mạnh nào đã in sâu vào trái tim, khối óc của họ mà không một đòn tra tấn dã man nào làm lung lay ý chí và nghị lực rất phi thường tiềm ẩn trong họ. Trước cái chết, họ vẫn ung dung tự tại, nói cho đúng là họ rất tự hào khi được hy sinh cho độc lập tự do.

Ngày ra đảo, ông và vợ mình đã nghe kể rất nhiều về những người chiến sỹ kiên cường ấy, trong đó câu chuyện về cô Sáu trước lúc hy sinh vẫn ca hát yêu đời, từ chối lời rửa tội của linh mục làm ông ray rứt mãi. Không biết hư thực ra sao chứ lính đảo rất sợ vong hồn cô Sáu sau cái vụ một thằng lính nổi điên lấy búa tạ đập vỡ tấm bia mộ cô Sáu. Đêm đó bỗng dưng sấm sét đùng đùng, trời nổi cơn giông bão tối trời tối đất. Thằng lính đó hổng biết ông ứng bà hành sao đó tự nhiên đội áo mưa đi ra phía nghĩa trang rồi bị sét đánh chết tím tái và cháy xém như cục than ngay dưới chân phần mộ cô Sáu. Từ đó không ai dám bén mảng tới chọc phá mộ phần cô Sáu nữa. Tuy vậy tấm bia hư hỏng rạn nứt kia không ai tới tu sửa cho đàng hoàng.

Nghe đồn ban đêm dân trên đảo đều thấy rõ bóng dáng một người con gái trẻ mặc áo trắng quần đen bay lơ lửng từ nghĩa địa Hàng Dương vào các xà lim trại giam rồi bay về biển. Hàng ngày trên ngôi mộ linh thiêng ấy luôn có nhiều hoa tươi trên đảo nhưng cũng không ai biết ai đã mang tới, và mang tới khi nào. Còn một câu chuyện bí ẩn khác mà Ba Hà nghe đồn thổi khá nhiều là việc trong các xà lim trên đảo, các tù chính trị đang giấu giếm một bộ đồ bà ba còn mới của cô Sáu để làm kỷ niệm tìm cơ hội chuyển vô đất liền cho những người cách mạng. Ra sức lục soát tra hỏi nhiều ngày đêm nhưng rồi đâu vẫn hoàn đấy. Ông hiểu, bộ đồ đơn sơ của người nữ cộng sản trẻ ấy đã trở thành báu vật thiêng liêng của các tù nhân Cộng sản trên Côn Đảo này.

Lần đó, chia tay vợ tay ở cầu tàu, Ba Hà nói rất nhỏ vào tai vợ:

- Tháng sau ra đảo thăm tôi, bà đi đặt một tấm bia đá quý khắc tên cô Võ Thị Sáu, bao nhiêu tiền cũng được. Rồi bà lừa thế đem bằng tàu ra đây cho tôi.

- Tiền thì không đáng lo, chỉ ngán tụi lính nó phát hiện thì tôi với ông “chầu trời”. Tôi lo quá trời.

- Đừng nói bậy hổng hên. Tôi theo quốc gia nhưng tôi nể phục cô Sáu này quá trời, chắc cổ linh thiêng dìa phù hộ cho mình đem tấm bia ra đảo an toàn, thấy cái bia cũ hư ráo trơn, tôi xót xa quá chịu hổng nỗi bà ơi!.

Cái ngày quan trọng ấy cũng đến. Bà Ba Hà bọc kín tấm bia mộ bằng đá quý được gói cẩn thận bằng hàng chục lớp giấy nhựt trình và vải xoa, bên ngoài cột chằng chịt bằng dây dù, dây ni lông và mấy lớp băng keo. Trời tháng bảy mưa dầm dề mà mồ hôi của bà rịn ướt mặt mày. Lúc người phu xe vác tấm bia xuống tàu ra Côn Đảo, tim bà như muốn đứng lại khi nghe giọng một người lính an ninh bến tàu quát lớn:

- Thằng kia. Đứng lại. Vác gì trên vai mà lu bu, lọng cọng quá vậy mậy? Bộ đồ tiếp tế cho mấy thằng tù Việt cộng ngoài đảo hả? Bỏ xuống mở ra cho tao kiểm soát rồi mới đi.

- Dạ, chú thông cảm. Đồ này hổng phải của tôi. Tôi vác xuống cho bà tỉnh trưởng. Bả xuống trước dưới tàu kia kìa. Có gì chú hỏi bả, chớ tôi có biết gì đâu.

Liếc mắt xuống thấy bà Ba Hà bận áo dài, khăn the, guốc mộc đang đọc báo dưới tàu. Tên lính bước tới hỏi khẽ:

- Thưa bà tỉnh trưởng, thằng kia nó nói vác đồ cho bà xuống tàu ra đảo, có thật vậy không? Mà đồ gì coi bộ nặng nề quá vậy, thưa bà?

Dù tim bà đập loạn xạ vì hồi hộp, trong thâm tâm bà cứ khấn nguyện vong linh cô Sáu về đây giúp bà vượt qua khó khăn nguy cấp này. Bỗng nhiên bà thấy tự tin hơn, bình tĩnh hơn bao giờ hết.

- Ờ. Đồ của tôi đó. Mấy tấm tranh bằng đá đó mà. Ổng kêu tôi đem ra cho ổng treo ở phòng mần việc. Chú cần để tôi mở ra cho chú kiểm soát. Bà mạnh giọng nửa răn đe, nửa thách thức.

- Dạ khỏi. Hỏi vậy thôi chớ đồ của tỉnh trưởng, tụi em đâu dám.

Khi tên lính bước lên khỏi bong tàu cũng là lúc tấm bia đá được chất xuống chiếc giường “thượng khách”, bà Ba buông người xuống giường thở hào hển, tay chân bà run lên lập cập, lạnh ngắt, xanh rờn. Tàu rời bến. Những con sóng dữ bắt đầu kéo đến. Trời tối om om. Chiếc tàu lắc lư chạy hết công suất để kịp vào bờ trước khi cơn bão tràn về. Gió thổi phần phật. Những người trên tàu bắt đầu lo lắng. Người niệm Phật. Người khóc than lo sợ trước sóng gió dâng đầy. Bà Ba Hà ôm chặt tấm bia khấn nguyện liên hồi:

- Cô Sáu sống linh thác thiêng phù hộ cho tai qua nạn khỏi, sóng gió tan đi, bình yên trở lại để tôi còn đem tấm bia này dựng lại trước mộ cho cô. Mô Phật.

Trong mơ hồ giông bão, bà thấy hình ảnh cô Sáu đang lúc ẩn, lúc hiện cười thật tươi trên biển, có khi cô lại cầm bó hoa dừa đất lại tiến đến gần cửa sổ nơi bà đang nằm như trấn an, như chở che cho bà qua cơn sóng gió để bà hoàn thành tâm nguyện của mình.

Sóng Yên. Gió dừng. Biển lặng. Tàu cặp bến. Từ đàng xa bà đã nhìn thấy ông Ba Hà đứng tại cầu Tàu với tâm trạng bồn chồn lo lắng. Chiếc xe “rép” nhà binh do chính ông cầm lái đang đang nổ máy đợi chờ. Hai người lính khệ nệ xuống bong tàu vác “quà” của tỉnh trưởng đi qua hàng chục đôi mắt kiểm soát của lính đảo. Phía sau, bà Ba Hà bước khập khiễng lên cầu tàu. Đôi mắt bà đăm đăm lo lắng. Mồ hôi ra rịn ướt tấm lưng bà dù trời đang rất lạnh. Không ai hiểu vì sao như vậy? chỉ trừ một người - ông Ba Hà.

Đồng hồ trên tay ông Ba Hà đã chỉ đúng 1 giờ đêm. Đảo vắng tanh. Nghĩa địa Hàng Dương càng vắng tanh gấp bội. Chiếc xe “rép” chạy thật chậm như cố thu nhỏ âm thanh của động cơ đang phát ra. Xe dừng lại. Hai bóng người hì hục chuyển tấm bia mộ xuống xe rồi nhanh chóng khiêng tới mộ phần cô Sáu trong đêm ba mươi tối đen như mực.

- Tối quá. Làm sao thấy đường thay bia được hả ông?

- Khó mấy cũng phải làm xong đêm nay. Tối vậy mấy đứa giám thị và lính canh mới không phát hiện. Ráng lên. Thế nào cô Sáu cũng dìa đây tiếp mình bà ơi! Thôi tôi ra phía ngoài coi chừng tụi nó. Bà ráng đào bia cũ lên rồi thay bia mới cho lẹ. Nghe hôn?

Khi ông Ba Hà vừa khuất dạng thì bà bắt đầu công việc của mình. Đào. Bưới. Móc đất. Cái điệp khúc cứ đều đặn lặp đi, lặp lại. Đôi bàn tay của một người phụ nữ quyền quý ăn ngon mặc đẹp đang toe toét máu tươi. Mặc. Bà vẫn hì hục đào trong đêm vắng. Cuối cùng thì việc cũng xong. Thắp vội vàng mấy nén nhang trầm mang từ đất liền ra cùng với mấy miếng thịt nạc, hột vịt, mớ muối bọt, bà khấn :

- Tôi đã làm xong bổn phận với cô Sáu. Có linh thiêng thì cô cho sớm hòa bình, đừng có chiến tranh, bắt bớ, giết chóc, tù đày, khổ lắm. Ngày đó tôi với ổng sẽ ăn chay trường để chuộc lại những lỗi lầm gây ra.

Nén nhang trầm bỗng cháy lên ngùn ngụt giữa đêm khuya. Có lẽ cô Sáu đang về đây chứng giám. Bà nghĩ như vậy rồi nghe lòng ấm lại thanh thản đến lạ lùng. Bà bước vội ra phía ngoài nghĩa địa. Ông Ba Hà đang chờ rồi cho xe chạy rất nhanh trong đêm vắng.

Hôm sau, cả đảo xôn xao bàn tán thêu dệt nhiều chuyện hoang đường về sự xuất hiện của tấm bia đá quý trên mộ phần cô Sáu. Người nói ma quỷ về làm. Người nói cô Sáu bay về đất liền đem bia ra dựng lại. Mỗi người một cách suy đoán. Chỉ có hai người lặng im trầm ngâm suy nghĩ. Giặc nổi điên định phá nát tấm bia lạ thường kia nhưng nghĩ đến cái cảnh người lính bị sét đánh chết chẳng toàn thây do xúc phạm đến mộ phần cô Sáu nên chúng ngó lơ.

- Nội kể chuyện đó làm con sởn tóc gáy quá trời, cô Sáu à gọi bà Sáu mới phải, linh quá. Rồi sau đó thế nào hả nội?

- Để ông nhớ tới đâu thì kể tới đó.

Sau chuyện làm bia đó, mấy năm sau, ông Ba Hà xin chuyển công tác về đất liền rồi xin giải ngũ. Ông ăn chay trường như tâm nguyện của vợ mình và câu chuyện làm bia cho cô Sáu được giấu kín cho đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng. Sau mấy mười năm nước nhà thống nhất, ông Ba Hà mới có dịp trở lại Côn Đảo khi tuổi đã xấp xỉ chín mươi. Nhờ trời ông vẫn còn minh mẫn, nhớ rõ mồn một những tháng ngày sống trên cái đảo giết người này, và nhớ nhất là câu chuyện về cô Sáu anh hùng. Và từ đây câu chuyện huyền thoại làm bia đá quý cho cô Sáu mới được mọi người biết đến trong sự ngỡ ngàng, thán phục.

- Tiếc quá. Bà nội bây mất rồi nên không có dịp về lại Côn Đảo thắp nhang cho cô Sáu, đảo xưa giờ đẹp đẽ, khang trang, khác xưa rất nhiều. Giọng ông thật buồn, đầy vẻ nuối tiếc.

Trên nghĩa trang Hàng Dương hôm nay hoa thắm đỏ rực một góc trời. Trước tấm mộ bia thật trang trọng được cẩn bằng đá quý mang dòng chữ Võ Thị Sáu, có một người con gái trẻ dìu một ông già râu tóc bạc phơ cúi đầu lặng lẽ trước nấm mồ khói hương nghi ngút. Xa xa núi đồi trùng trùng điệp điệp đang ẩn chứa những câu chuyện kể thật ly kỳ hấp dẫn về những con người bất tử đã nằm xuống trên Côn Đảo anh hùng. Xa hơn nữa trong gió, trong mây, trong sóng biển rạt rào phảng phất dáng hình một người con gái đang ẩn hiện mơ hồ trong lời hát du dương “…Mùa hoa Lê Ki Ma nở. Ở quê ta miền Đất Đỏ…”, “…Người thiếu nữ ấy như mùa xuân, chị đã dâng trọn cuộc đời. Để chiến đấu với bao niềm tin. Dù chết vẫn không lùi bước ...”.

Tour Côn Đảo


Từ khóa tìm kiếm

chuyen tam linh con dao

chuyện tâm linh côn đảo

chuyen tam linh o con dao

chuyện tâm linh ở côn đảo

chuyen tam linh ve con dao

chuyện tâm linh về côn đảo

con dao tam linh

côn đảo tâm linh

tam linh o con dao

tâm linh ở côn đảo

tam linh ve con dao

tâm linh về côn đảo